Thứ Ba, 14 tháng 5, 2013

Chương 6: Cô Năm blog - Lời người bán gà (tiếp theo)


Buổi chiều khi ngã đi đào hà thủ ô về tới rặng sầu đâu thì đã đánh hơi thấy có mùi khác lạ. Hai người khách đứng nghênh ngang trước hiên nhà không có vẻ gì là kẻ mắc nạn tới cầu thần khẩn bói. Ngã đứng sau bụi cỏ hôi quan sát họ, một người nhỏ thó da mặt rỗ chằng rỗ đụp sát khí bao trùm. Một người cao ráo bảnh trai có cặp mắt sâu giảo hoạt, ngã nhìn ra sau lưng nó thét rồi giật mình. Thằng này từng giết oan không biết mấy mạng người, cô hồn ẩn bóng phía sau.

Ngã đi vô cổng nhà, con gà trống cụt đi theo sau, đang nhiên rồi nó dừng lại kêu the thé.
Hai người đàn xông ra nhìn con gà lom lom. Người mặt rỗ hất hàm ra lịnh:
– Mang con gà theo tụi tao.
Mấy đứa này chưa hiểu chuyện đời hay sao? Đây là nhà của ngã, đất của ngã, tới đây không thưa gởi tử tế thì đừng tưởng có đường về. Lão Thể đứng phía sau ngã thì thào:
– Năm cho mỗi thằng một cuốc đi, rồi lão mang xác chôn ngoài lùm hà thủ ô.
Ngã cười gằn, khó gì chuyện đó, nhưng trừ gian diệt ác không phải là chuyện của ngã. Bình sinh ngã chỉ lo chữa bịnh cứu người, người cõi trên, nhập vô xác phàm để làm việc cứu nhơn độ thế chứ đâu gây nghiệp báo. Bởi vậy mà ngã dằn lòng nói đẩy đưa:
– Mấy chú em ở đâu tới, sao không vô nhà uống chén trà?
Thằng bảnh trai chừng biết ý, nó hạ giọng nói:
– Nghe nói nhà này có con gà nuôi làm thuốc, tụi này tới mượn đỡ con gà.
Tụi này nhìn qua là biết không phải phường thảo khấu đạo tặc, nhưng lại nói giọng cướp giật vô đạo bất lương. Ngã bình tĩnh hỏi lại:
– Mượn mang đi đâu, xa không?
– Qua đường xa lộ là tới.
Ngã gật đầu, bên kia xa lộ ngã cũng rành địa hình sợ gì hai thằng này mà không đi theo. Vậy là ngã ôm con gà theo tụi nó, tưởng đi đâu, hoá ra nhắm hướng vô Đường Sơn gia trang. Căn nhà thuỷ tạ nằm chơ vơ giữa đầm lầy soi bóng trên mặt nước, quanh năm lạnh lẽo hoang thê, bữa nay đèn đóm sáng choang. Ánh đèn soi loang loáng trên mặt nước đen bóng nhấp nhô xao động. Chỉ những khi quan lớn về thị sát Thủ Đức, Đường Sơn gia trang mới sáng ánh đèn như vầy. Mấy cái hồ nuôi đỉa rộng bạt ngàn vây kín lối vô, xẩm chiều giấc này mát mẻ nên đỉa nổi lềnh mặt.
Mặt trời khuất sau rừng cao su, để lại chút ráng đỏ trên ngọn lá. Phía bên rừng cao su đó là nghĩa địa liệt sĩ, nơi yên nghỉ của mấy quan lớn dày công đức. Lúc nào cũng hương khói nghi ngút, tràng hoa rực rỡ, điếu văn thánh thót, tà khí u u. Lệch qua bên kia triền đồi là trường bắn, lạnh lẽo tịch mịch, quạ kêu ngoắc ngoải, dương khí vừa thoát ra khỏi thân xác tù tội vất vưởng trôi trên lau xanh cỏ dại. Thuở ban đầu trường bắn chỉ là nơi xử tử đám tội phạm dân đen chuyên cướp của giết người, nhưng dần dà rồi nhiều quan lớn cũng qua nằm phơi thây bên đó. Mấy quan không cướp vài lượng vàng như tụi đạo tặc, không hại một vài mạng người như thằng khố rách ác nhơn. Quan lớn làm chuyện lớn, nhưng chuyện của mấy quan chỉ có quan trên quan dưới biết với nhau, người đời nghe được không khỏi rùng mình kinh sợ. Cùng làm ác nhưng có người được long trọng nghi lễ phủ phê nâng tầm liệt sĩ, cùng giết hại dân lành nhưng có người bị bắn đổ máu trong trường xử tử. Từ nghĩa trang liệt sĩ qua bên trường bắn cách mấy bước chân, từ người có công trạng qua làm tử tù cách mấy bước chân, không ai nói được kẻ ở bên này công tội nhiều hơn hay kẻ ở bên kia thiện ác nhiều hơn. Cũng tham tàn cướp của, cũng hãm hại người lương, nhưng có kẻ sảy chân đổ máu – có kẻ bước lên đỉnh vinh quang.
Ai nói cuộc đời này phù du? Ngã nói, cuộc đời này rặt những thứ phi lý.
Hai thằng côn đồ áp tải ngã qua con đường trồng thiết mộc lan. Hôm nay ngày mùng bảy âm lịch. Chút nữa trăng lưỡng nghi lên là đỉa nổi đặc lừ trên mặt nước, ngã biết, nhằm ngày này đỉa vặn mình đứt đôi. Cái giống lưỡng nghi này không cần đực cái, cứ nhơn đôi sòn sòn mỗi tháng đen lừ lừ hết mặt hồ.
Khí dâm ô sa đoạ bốc ra từ nhà thuỷ tạ, lan đi trên đầm lầy đen như hắc ín. Ngã rùng mình, chân không muốn bước. Đêm nào quan về đây nước đầm cũng hoá đen tanh tưởi vô cùng. Đầm lầy nuôi dưỡng âm binh, căn nhà chứa chấp hồn ma, mang thêm dâm chướng vô chỗ này là không yên. Bởi vậy mà tà khí hiện lên trùng trùng trên bộ mặt rửng mỡ của quan.
Quan nằm vất vưởng trên ghế nệm, hai đứa con gái ngồi xoa bóp kế bên. Hai con nhỏ này chẳng xa lạ gì, tụi nó là gái lầu xanh bên Đường Sơn quán, chuyên phục vụ hầu hạ mấy quan lớn. Nghe tiếng ngã bước vô, quan uể oải nghiêng mặt trên gối nói:
– Con gà trống đó hả, nghe đồn nó cường dương, đúng không?
Ngã ôm chặt con Cụt vô lòng, ngập ngừng đáp lời:
– Dạ, cường dương, mát thận.
– Giá nào quan cũng mua. Để con gà lại đấy cho quan.
Ngã cúi đầu nhỏ nhẹ tìm cách từ chối khéo:
– Con gà này còn thiếu mấy thang thuốc nữa mới thuần càn. Xin quan thủng thẳng chờ cho vài tuần trăng.
Quan càng nóng ruột ra giá chắc nịch.
– Ba lượng vàng nhé. Để cái đấy cho quan.
– Con gà này còn non tiếng gáy, âm hàn chưa tiệt hết, ăn vô khoẻ cái này nhưng mỏi cái kia. Xin quan chờ thêm vài ba tháng nữa.
Quan rên lên một tiếng, lật người qua cho hai đứa con gái xoa bụng. Ngã ghê tởm nhắm mắt quay mặt đi.
Ngã thật tình không muốn bán con gà cho quan, nhưng phải kiếm cách nói thác cho quan khỏi phật lòng, nếu không thì khó sống. Khổ lắm, người cõi trên mà không biết chuyện trần gian cũng khó sống.
Quan tổng đốc chừng cũng xuôi tai. Khi ngã ngó qua, thấy mặt quan đỏ au au, nụ cười quan nhơn hậu. Quan dặn kỹ lưỡng:
– Được rồi, ba tháng nữa. Nhớ dưỡng cái đấy cho quan.
Con trống cụt nằm yên trong lòng ngã từ nãy giờ bỗng ngóc đầu dậy mặt đỏ phừng phừng. Ngã đè đầu con gà xuống mà than:
– Gần mất mạng tới nơi mà còn ham hố.
Quan tổng đốc mặt đỏ au au trên gối, quan cười ung dung tự tại:
– Nhớ dưỡng cái đấy cho quan.
– Dạ. Dạ. Dưỡng cái đó cho quan.
– Ba tháng nữa quan về thị sát vùng Thủ Đức, nhớ mang cái đấy đến sắc thuốc cho quan.
Huyện Thủ Đức nằm ngay long mạch. Con rồng chín đầu hướng ra biển Đông. Huyện Thủ Đức tọa trúng khúc ruột con rồng. Bổ dưỡng cũng từ đây, mà hư thúi cũng từ đây. Người giàu cũng kéo về đây, dân nghèo tứ xứ cũng kéo về đây. Tướng lãnh lập cơ ngơi ở đây, đĩ điếm cũng làm ổ ở đây. Đại học quốc gia xây ở đây, nhà thương tâm thần cũng xây ở đây. Nam thiên nhất trụ chùa một cột ở đây, trại phục hồi nhơn phẩm cũng ở đây. Ai cần gì cứ tới Thủ Đức mà tìm. Bên này đồi có lính bồng súng chào, bên kia đồi có lính giương súng ngắm. Ngã ngước lên nhìn quan, bỗng rùng mình. Tà khí ẩn bóng ở nhơn trung. Quan Quỷ xung khắc, Thế bị Nguyệt phá, âu là điềm hung. Đại hung. Quan không chi tiền hỏi hậu vận thì ngã cũng không được phép nói. Cái nghề này nó kỳ cục vậy đó, phàm tâm không thành thì quẻ không ứng. Bao giờ gặp kiếp nạn, quan cứ tìm ngã, khi đó một đồng cắc ngã cũng không lấy của quan. Ai cần là ngã giúp, không phân biệt quan dân, giàu nghèo. Mặt quan đỏ au au, quan cười hiu hiu tự mãn.
– Nhớ dưỡng cái đấy cho quan.
– Dạ. Dạ. Dưỡng cái đó cho quan.
Quan đưa tay cho ngã bắt mạch. Không chẳng không. Phá chẳng phá. Sinh chẳng sinh. Khắc chẳng khắc. Tĩnh chẳng tĩnh. Động chẳng động. Người thế gian phàm có nghi nan phải biết thành tâm cầu thần hỏi bói. Quan hả hê khoe. Quan xuất thân ở Cao Nguyên, đường công danh hạnh ngộ, đức độ cao dày mà thành tổng đốc cai quản nguyên vùng đồi núi. Ngã thả tay quan ra, cúi đầu chết lặng cõi lòng. Cao Nguyên. Bao nhiêu là oán sầu, bao nhiêu là kỷ niệm. Ngã nghĩ tới đó bỗng rùng mình hoang mang, hồn lạc trong sương mù. Tiếng quạ kêu đau thương thảng thốt.
Cao Nguyên ơi, bao nhiêu là yêu thương!
Quan nói giọng đàng ngoài, chắc không sanh ra ở Cao Nguyên, dù rằng quan cứ nhận mình là người của núi đồi. Ngã biết rồi, quan là người đàng ngoài vô Cao Nguyên lập cơ đồ xưng vương xưng bá. Ngã sanh ra ở Cao Nguyên, thân tàn ma dại rồi bỏ xứ ra đi. Quan với ngã, hai con đường, hai số phận sao lại gặp nhau làm gì ở đất Thủ Đức. Ai cần gì cứ tới Thủ Đức mà tìm. Mà, quan nhắc lại làm gì. Bình sinh ngã không màng áo lý, yêu thương hận thù đã cố quên hết. Đâu chỉ một mình ngã phải quên, còn bao nhiêu người khác, bao nhiêu nỗi đau khác xin được chết yên trong câm lặng. Quan hả hê nhắc lại làm gì. Mặt quan đỏ au au, cười dương dương tự đắc.
– Nhớ dưỡng cái đấy cho quan.
– Dạ. Dạ. Dưỡng cái đó cho quan.
Nghe rồi, nói mãi, khổ lắm. Nhưng cái đó ngã định dưỡng hai tuần nữa rồi biếu không cho ông Tám ve chai. Ông Tám liệt chân phải, gánh ve chai mà lết không nổi. Lần nào ngã đi bốc thuốc ngang qua cũng ghé vô thăm. Ổng nằm bẹp lép trong lều, nước mắt sống chảy hai hàng. Bàn tay bàn chân đã bắt đầu lạnh. Phóng uế một chỗ hôi thúi không ai chăm sóc. Cái gánh ve chai đứt quai nằm trống lơ trong xó. Ngã xoa bóp ông già, bắt mạch ổng mà đau đứt ruột. Ngã hứa có Trời có Đất, khó cỡ nào cũng phải cứu ông Tám. Nếu không cứu nổi, xin Trời Đất để ngã đổi mạng sống cho ông Tám.
Nói cho ngay, không phải ngã chê tiền chê bạc của quan đâu. Tiền nào cũng quý cũng thơm. Ngã cũng cần tiền chớ. Ông Tám cũng cần tiền. Nhưng ngã thương con gà muốn bồi đắp cái đức cho nó. Dù gì ngã cũng nuôi nấng nó bao lâu nay, tình cảm quấn quýt. Người quân tử chọn nơi mà gởi tấm thân. Ngã nói với con gà:
– Liệt lang, kiếp này Liệt lang cứu được ông Tám thì trả xong nghiệp chướng. Kiếp sau được làm người an nhàn thanh thản.”
Con gà đỏ mặt kêu the thé. Thấy thương gì đâu. Thương lắm, gà ơi. Nhưng mày chỉ là loại bồi bổ dương khí thôi. Bệnh ông Tám trầm trọng, tổn thương tới kinh mạch cần phải có linh dược. Mấy tháng trước, ngã cất công mò tìm được củ hà thủ ô đỏ to bằng cườm tay. Hà thủ ô mọc trên đồi khô, đào xuống tới hai mét, tìm được củ bằng ngón tay cái đã là đại quý. Củ này phải đào tới ba mét đất, vừa đào vừa lần theo dây không thì mất dấu. Sợi dây mỏng tang chạy ngoằn ngoèo ôn dịch. Cái loại sâm này tinh ranh ma quỷ, mình không nắm chặt nó là nó lủi đi theo thổ địa. Ngã đào được tới khoảng cuối đầu dây là phải quăng cuốc bò xuống huyệt, từ đó chỉ dám bới bằng tay, vừa bới vừa níu cứng nó. Lại còn sợ tụi sùng ăn hớt tay trên. Khu đồi này bị sùng hoành hành kinh khủng. Hễ thứ gì ngon là Sùng Chúa cho quân đi đục khoét, cướp phá. Tội ác tụi này không biết bao nhiêu mà kể. Ngã đào sùng băm vằm cho gà ăn, âu cũng là thay trời hành đạo. Lão Thể cũng là khắc tinh của sùng. Lão đào sùng về nấu cháo, húp xì xụp. Ngã nhìn nồi cháo sùng trắng nhởn lều bều là muốn ói.
Hai bàn tay ngã bới suốt hai ngày tướt hết da. Trần mình dưới huyệt, tối liếm vài hột sương cầm hơi. Khi thấy được củ sâm bắt đầu ló ra, bằng đầu ngón tay trỏ màu đỏ nâu, ngã mừng nghẹn thở. Đất thì lạnh mà hơi nóng củ sâm toả ra ấm hết lòng huyệt, đúng là thứ linh dược ngàn năm mới có một.
Dây sâm mọc giữa mả ông quan và mả ông cướp. Ông quan này hồi còn sống nghe đồn ăn hết hai chiếc tàu dầu, một con đường xa lộ Bắc Nam, ba cây cầu đúc bê tông, mấy va goong sắt thép, mấy va li sừng tê giác… Mấy thứ ổng ăn vô bụng không mang theo được, ngấm hết vô củ hà thủ ô, bổ dưỡng không biết bao nhiêu mà kể. Ngã cũng lấy làm lạ. Có sức ăn nhiều cỡ này thường qua bên nghĩa trang liệt sĩ rừng cao su để lính bồng súng chào. Nhưng cái thứ vô chỗ đó tinh khí đã cạn kiệt hết rồi. Đang sung mãn tràn trề sinh lực mà liệng qua đây xén ngang như vầy là thiệt hiếm. Cạnh bên là mả tướng cướp Hai Thòm, tàn ác gian hùng đảm lược, khét tiếng khắp vùng Đông Nam bộ, tới lúc cận kề cái chết mà tinh khí vẫn hiên ngang hừng hực. Ngã để củ sâm lên ụ đất, quỳ xuống chắp tay vái hai bên tả hữu. Ngã làm việc này vì lòng nhơn, để những kẻ thất nhơn thất đức như quan, gian hùng như cướp còn lưu lại một chút ơn nghĩa với đời. Xin đừng oán trách ngã.
Ngã định phơi củ sâm đúng ba nắng rồi sắc cho ông Tám uống. Không ngờ thằng cha Thể lỏm mất. Ngã giận quá định bắt lão Thể thế mạng cho ông Tám, nhưng lão đoán được trốn đi biệt tăm. Bảy ngày sau, lão mò về, củ hà thủ ô đã tan vô máu. Con nít không ra con nít, mà sinh lực cường tráng như trai mười bảy. Đồ quỷ sứ.
Ngã mất củ hà thủ ô, lại phải ra quần khu trường bắn, tìm cho bằng được củ hà thủ ô khác cho ông Tám. Chỉ có loại sâm ở đây mới đắc y. Tinh khí con người ta mà đột ngột cắt ngang, nó thoát khỏi thân xác nhục bì mà không tan biến đi được, nó bám lất lây trên cây cỏ, theo mưa gió thấm dần xuống đất. Hà thủ ô đỏ là giống thần đan, nó bò đi ngang dọc triền đồi tìm hút tinh khí của con người dồn nén thành huyết sâm. Nhưng loại sâm lớn đâu có dễ tìm, ngã đào nát hết cánh đồng mà chỉ tìm được mấy củ nhỏ queo queo. Mấy củ này chỉ vừa đủ cho ông Tám đứng dậy chống gậy ra chợ bán vé số.
Lão Thể nói:
– Bên nghĩa trang liệt sĩ hà thủ ô mọc rậm rì. Sao Năm không qua đó đào.
Ngã nghe xong là cười sằng sặc. Đồ ngu. Cái loại đó dương khí bệu rệu đớn hèn, chết lần chết mòn trong sa đoạ bỉ nhược rồi thành liệt sĩ. Bên vinh danh toàn là thứ bỏ đi, uống vô mang thêm bệnh
Buổi chiều, ông Tám qua nhà khề khà uống chén rượu. Ổng đọc cho ngã nghe mấy câu thơ Lục Vân Tiên, cái nhơn nghĩa tan ra trong lòng. Ông Tám chống gậy lọc cọc ra về, ngã nằm vắt tay lên trán ngẫm nghĩ, hay bán con gà cụt cho quan tổng đốc lấy ba lượng vàng. Một phần giúp ông Tám mở quán rượu, một phần để dành lo hậu sự cho ổng. Già cả côi cút như ổng, sống được bao lâu nữa.
Chỉ tội cho con gà, vì việc đạo nghĩa mà sa thân vô chốn ô trọc.

Comments (0 total)


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét